Chọn Mục Tin: Tin tức
Canada Dẫn Đầu Thế Giới Về Mức Giảm Khí Thải CO2
Nhận tin tức mới
Dù đã rút khỏi Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu, lượng khí thải CO2 của Canada vẫn đã giảm gần như nhiều nhất trên thế giới.
Tờ The Globe and Mail, hôm 11/5/2013, đã trích dẫn các số liệu mới nhất cho thấy lượng khí thải năm 2011 của Canada đã giảm 11,4% so với năm 2005, trong khi lượng khí thải cùng năm của Mỹ chỉ giảm được 8,5%.
Trong số các nước kỹ nghệ phát triển, lượng khí thải của Canada trong từ năm 2005 đến 2011 giảm nhiều hơn châu Âu và Nhật Bản, gần bằng mức của Đức, và chỉ thấp hơn mức giảm khí thải của Anh.
Tuy nhiên, những nỗ lực giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính của các nước phát triển không bù đắp nổi sự gia tăng lượng khí thải lớn từ các quốc gia có nền kinh tế đang tăng trưởng.
Lượng khí thải của Trung Quốc từ năm 2005 đến năm 2011 đã tăng 60%, tức tăng gấp ba lần lượng khí thải cắt giảm tổng cộng của Canada, châu Âu, Nhật Bản và Mỹ. Nếu cộng thêm cả Ấn Độ và Nga cùng với Trung Quốc, lượng khí thải đã tăng 4 tỷ tấn trong vòng sáu năm.
Tăng trưởng kinh tế cao có thể là nguyên nhân khiến lượng khí thải của các nước đang phát triển tăng mạnh. Ngay trong giai đoạn suy thoái kinh tế năm 2008-2009, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Trung Quốc vẫn đạt trên 7.
Tuy nhiên, mặc dù kinh tế Canada chỉ suy giảm chút ít, nhưng lượng khí thải của nước này sau năm 2005 đã giảm nhanh hơn hầu hết các nước phương Tây khác.
Một nguyên nhân khác khiến lượng khí thải của Canada và các nước phương Tây khác có chiều hướng giảm nhờ các quốc gia này bớt phụ thuộc vào nhiệt điện sử dụng than đá, tăng cường sử dụng khí đốt tự nhiên và năng lượng tái tạo.
Cuối năm 2011, Canada là quốc gia đầu tiên chính thức rút khỏi Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu bởi vì cho rằng Nghị định này “không đại diện cho tương lai Canada”.
Hai quốc gia gây ô nhiễm nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc vẫn đứng ngoài Nghị định thư Kyoto.
(Cre: Thời Báo)
Các Loại Tiền Hưu Của Công Dân Canada
Nhận tin tức mới
Câu Hỏi: Kính gửi quý báo, trước hết, tôi kính chúc ông bà cùng toàn thể nhân viên tòa soạn Thời Báo dồi dào sức khỏe. Sau đây tôi có vài điều thắc mắc xin ông bà vui lòng giải đáp:
1/ Tôi sống ở Canada 16 năm, đến tháng 12/2011 tôi được 62 tuổi, hiện đang thất nghiệp. Vì lớn tuổi khó xin được việc làm tại Canada, như vậy đầu năm 2012 tôi có thể đệ đơn xin hưởng trước tiền già (OAS) được không? Nếu được số tiền là bao nhiêu? Đến năm 65 tuổi số tiền già OAS có được tăng thêm hay không?
2/ Nếu tôi được lãnh thì số tiền già OAS có bị trừ hay không vì hiện nay:
- Tôi đang hưởng tiền pension (135 đồng hằng tháng) của Caisse d’assurance et the travailleurs amalgamés du vêtements de la province Québec (tôi làm ở hãng may đã đóng cửa từ năm 2008).
- Tôi có khoản 1,500 tiền REER ở ngân hàng.
- Vợ tôi đang đi làm lợi tức dưới 20,000/năm và có ít tiền mua placement ở ngân hàng.
3/ Vợ tôi hiện giờ 50 tuổi, bao giờ có thể làm đơn ăn theo chồng?
4/ Tôi đang ở Montréal, phải nộp đơn xin tiền hưu ( tiền già) ở đâu?
Chân thành cảm ơn ông bà.
H.Dang, Montreal.
Trả lời:
Cư dân nhập cư Canada đến tuổi về hưu được bảo đảm một lợi nhuận hưu cơ bản và nhận được ít nhất 01 trong 03 nguồn lợi tức hưu: tiền hưu già (OAS/SV), tiền hưu (CPP/QPP) và các loại tiền hưu “tư” do chủ nhân đóng góp hay cùng đóng góp với chủ nhân hoặc để dành tiền vào các quỹ hưu tư, trương mục tiết kiệm hưu như: RRSP/REER, SPP/RCR, EBP/RSR, DPSP/RPDB, EPSP/RPEB, LIRA/CRI, LIF/FRV…
Tiền hưu ( hay còn gọi là tiền già) cơ bản OAS/SV được tài trợ trực tiếp từ ngân sách chính phủ liên bang và cấp phát cho cư dân Canada dựa trên thời gian cư ngụ hợp pháp tại Canada, hoàn toàn không lệ thuộc vào sự làm việc Canada.
- Điều kiện: được ít nhất 65 tuổi, cư ngụ hợp pháp tại Canada ít nhất 10 năm sau khi được 18 tuổi.
- Số tiền nhận được: tiền OAS/SV cấp phát mỗi tháng, điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát mỗi tam cá nguyệt và căn cứ trên số năm cư ngụ vào thời điểm đệ đơn. Hưu nhân cư ngụ tại Canada ít nhất 40 năm hay trước ngày 01/07/1977 nhận được tiền OAS/SV tối đa 537,97 CAD/tháng/năm 2011 và nhận được tiền OAS/SV từng phần nếu cư ngụ ít hơn 40 năm.
- Bên cạnh tiền già cơ bản OAS/SV, cao niên có thể nhận thêm phụ cấp tiền bù GIS/SRG nếu không có lợi tức hay lợi tức thấp. Tiền bù GIS/SRG nhận được chung với tiền già cơ bản OAS/SV cấp phát từ tháng 07/năm nay đến tháng 06/năm tới dựa vào hồ sơ khai thuế cá nhân hay gia đình năm trước.
- Điều kiện: nhận được tiền già cơ bản OAS/SV, có lợi tức cá nhân hay gia đình dưới mức qui định.
- Số tiền nhận được: tùy theo tình trạng gia đình, người phối ngẫu hay bạn đời sống chung đến tuổi nhận tiền già, tiền ăn theo (Allowance/l’Allocation) và lợi tức khai thuế năm trước cũng như lợi tức hiện hành.
Tiền ăn theo (Allowance/Allocation) là một loại phụ cấp đặc biệt của chương trình hưu già OAS/SV nhằm giúp đỡ người phối ngẫu, bạn đời sống chung (tuổi từ 60 đến 64) của cao niên đang nhận tiền già cơ bản OAS/SV, tiền bù GIS/SRG cho đến khi đủ tuổi lãnh tiền già OAS/SV và tiền bù GIS/SRG cá nhân.
- Điều kiện: tuổi từ 60 đến 64, cư ngụ hợp pháp tại Canada ít nhất 10 năm sau khi được 18 tuổi và lợi tức gia đình thấp dưới mức qui định.
- Số tiền nhận được: trả mỗi tháng dựa trên lợi tức gia đình khai thuế năm trước và mức lợi tức hiện hành (nếu cần).
- Tiền già góa (Allowance for the Survivor/Allocation au survivant) là trợ cấp đặc biệt cho góa nhân.
- Điều kiện: tuổi từ 60 đến 64, vẫn giữ tình trạng “góa”, cư ngụ tại Canada ít nhất 10 năm và không có lợi tức hay lợi tức thấp.
- Số tiền nhận được: mỗi tháng, tùy thuộc lợi tức cá nhân năm trước hay mức lợi tức hiện hành (nếu cần).
Ngoài ra, người đi làm tại Canada bị đóng tiền vào quỹ CPP hay QPP có thể đệ đơn xin tiền hưu CPP/QPP nếu được ít nhất 60 tuổi. Người đi làm có thể đệ đơn xin tiền hưu bệnh (CPP-D/QPP-Invalidité) nếu bị bệnh tật lâu dài không còn năng lực đi làm mọi việc làm Canada. Chẳng may qua đời, người ở lại có thể đệ đơn xin tiền tử, tiền hưu góa, tiền con mồ côi nếu người đi làm đóng góp ĐỦ và quỹ CPP/QPP theo qui định.
Các loại tiền hưu tư có thể nhận được từ tuổi 55 tùy theo hợp đồng với cơ sở tài chính, ngân hàng điều hành quỹ hưu tư và luật lệ của tỉnh bang nơi cư ngụ. Tiền RRSP/REER có thể để dành đến tuổi 71 và chuyển qua trương mục RRIF/FERR hay mua Annuity/Annuité.
Sau đây là phần trả lời cho các thắc mắc của ông:
1. Xin tiền hưu già OAS/SV:
Một trong những điều kiện chính là cao niên phải được 65 tuổi để xin tiền hưu già cơ bản OAS/SV. Ông gần được 62 tuổi, cần chờ thêm khoảng 37 tháng để được tiền già OAS/SV và phụ cấp tiền bù nếu lợi tức gia đình dưới mức qui định.
Khi được 65 tuổi, ông cư ngụ tại Canada khoảng 19 năm. Số tiền già cơ bản OAS/SV nhận được khoảng $254/tháng. Số tiền già cơ bản giữ cố định và hiệu chỉnh mỗi năm 04 lần theo tỉ lệ lạm phát.
2. Hệ quả tiền bù và lợi tức:
Tiền bù GIS/SRG là một phụ cấp đặc biệt của chương trình hưu già OAS/SV cấp cho cao niên không có lợi tức hay lợi tức thấp dưới mức qui định và không lệ thuộc vào tài sản của cao niên.
Ông đang nhận tiền hưu tư khoảng $135/tháng hay $1,620/năm do sự đóng góp của chủ nhân công ty may vào quỹ hưu tư. Số tiền này là lợi tức.
Tiền hưu REER/RRSP trong ngân hàng là tài sản không ảnh hưởng đến sự cứu xét tiền bù SRG/GIS; trừ trường hợp, ông lấy tiền REER ra thì số tiền lấy ra bị xem là lợi tức.
Tiền mua “Placement” của bà nhà là tài sản và không ảnh hưởng đến sự cứu xét tiền bù.
Giả định, lợi tức đi làm của bà nhà khoảng 20,000 CAD. Theo qui định hiện hành, lợi tức của bà dùng để tính tiền bù cho ông là $16,500 (lợi tức đi làm trừ bớt 3,500 CAD).
Như vậy: lợi tức gia đình khoảng $18,120/năm. Tiền bù SRG được trả chung với tiền già cơ bản SV dưới tên SV/SRG và giảm bớt theo lợi tức gia đình hay cá nhân.
Thí dụ: cao niên nhận tiền già, người phối ngẫu dưới 60 tuổi.
- Lợi tức gia đình dưới 4,100 CAD; tiền già SV/SRG (OAS/GIS) nhận được là 1,267CAD/ 41/ tháng/ quỹ4/ năm 2011.
- Lợi tức gia đình khoảng 18,120 CAD, tiền già SV/SRG nhận được chỉ khoảng 975 CAD/ tháng…
- Lợi tức gia đình khoảng 25,000 CAD, tiền già nhận được là 831 CAD/tháng…, và
- Lợi tức gia đình đến 19,120 CAD, tiền già chỉ còn 538 CAD/tháng.
Khi ông được 65 tuổi để xin tiền hưu già, bà nhà mới được 53 tuổi. Theo qui định của luật SV/OAS, bà nhà phải chờ thêm 07 năm để xin tiền ăn theo. Tiền ăn theo (l’allocation) cũng như tiền bù căn cứ trên lợi tức của gia đình khai thuế năm trước và lợi tức hiện hành (nếu cần).
Thí dụ: vào năm 2021; ông đang nhận tiền già SV/SRG, bà nhà có thể nhận tiền ăn theo.
- Lợi tức gia đình dưới 50 CAD, ông nhận được 1,021 CAD/tháng/ tiền già SV/SRG và bà nhà nhận 1,021 CAD/ tháng/ tiền ăn theo L’allocation.
- Lợi tức gia đình khoảng 18,120 CAD/năm; tiền già SV/SRG nhận được là 789 CAD/ tháng và tiền ăn theo chỉ còn khoảng 251 CAD/ tháng.
- Lợi tức trên 30,192 CAD/ năm, tiền già nhận được khoảng 723 CAD/ tháng và tiền ăn theo là ZERO.
3. Địa chỉ liên lạc:
Trung tâm Service Canada là cơ quan trực thuộc Bộ Nhân Lực Canada điều hành lợi nhuận hưu già OAS/SV, hưu CPP. Bộ phận phụ trách lợi nhuận hưu già OAS/SV cho mọi cư dân nhập cư Canada và tiền hưu CPP cho người đi làm cư ngụ ngoài tỉnh bang Québec đề nghị cao niên đệ đơn khoảng 06 tháng trước khi đủ điều kiện xin các loại lợi nhuận hưu.
Cư dân có thể điện thoại: 1-800-277-9915 (tiếng Pháp) hay 1-800-277-9914 (Anh) xin gởi đơn cần thiết về địa chỉ cư ngụ hay đến trung tâm Service Canada gần nhà lấy đơn hoặc download từ trang web: www.servicecanada.gc.ca.
Sau khi hoàn tất đơn xin, đem đến trung tâm Service Canada gần nơi cư ngụ đệ đơn để giới hữu trách copy, thị thực chữ ký miễn phí các văn tự cần thiết.
Đơn cần thiết:
- Xin tiền già OAS/SV: Demande de Pension de la Sécurité de la vieillesse, ISP-3000.
- Xin tiền ăn theo (Allowance/Allocation): Demande D’Allocation ou D’Allocation au survivant, ISP-3008.
4. Nhận xét:
Như vậy, trường hợp của ông, rất tiếc, ông phải chờ thêm một thời gian để xin tiền già OAS/SV và phụ cấp tiền bù…
Ông có thể liên lạc với The Régis (Régie des rentes Québec -RRQ) xin tiền hưu QPP và tiền hưu QPP nhận được tùy theo số tiền, thời gian đi làm đóng góp vào quỹ QPP, cùng thời điểm đệ đơn. Tiền hưu QPP không lệ thuộc vào tài sản và lợi tức của cao niên.
- *Mẫu Đơn cần thiết: Demande de rente de retraite/Application for a Retirement Pension (QPP), B-001
- Địa chỉ liên lạc: Điện thoại đến Régis, xin gởi đơn về địa chỉ cư ngụ hoặc đệ đơn trực tiếp hay in đơn từ trên trang web: www.rrq.gouv.qc.ca. Số điện thoại liên lạc: 418-643-5185 (Région de Québec); 514-873-2433 (Région de Montréal) hay 1-800-463-5185.
Chúc ông cùng gia đình sức khỏe và an lành.
(Cre: Thời Báo – Ô/Bà Bút Bi)
Chương Trình Doanh Nhân Tỉnh Bang Pei Chính Thức Tăng Mức Yêu Cầu Về Tài Sản Và Mức Đầu Tư
Nhận tin tức mới
- Thay đổi hệ thống chấm điểm để phản ánh tốt hơn các yêu cầu của chương trình. Thay đổi bao gồm việc làm rõ yêu cầu về ngôn ngữ. Chứng chỉ IELTS chỉ có giá trị tính điểm trong vòng 2 năm từ ngày thi. Điểm dành cho khả năng hòa nhập dựa vào yếu tố các mối liên hệ gia đình tại PEI cũng được cập nhật.
- Về diện di trú với Giấy Phép Làm Việc, một khi giấy phép làm việc được tỉnh bang cấp thì đương đơn không thể thay đổi sang diện khác.
- Tăng yêu cầu tối thiểu về tài sản lên mức 600,000 CAD.
- Phần yêu cầu ký quỹ tăng lên 150,000 CAD. Phần tăng thêm 50,000 CAD dùng cho mối ràng buộc về cư trú – sau khi đương đơn đã sống ở PEI 6 tháng, họ có thể nộp hồ sơ để nhận hoàn 25,000 CAD lý quỹ và sau khi đương đơn sống ở PEI trên 12 tháng, họ có thể nộp đơn để nhận khoản ký quỹ cư trú 25,000 CAD còn lại
Định Cư Mỹ: Lịch Thị Thực Tháng 05/2013
Nhận tin tức mới
Bộ Ngoại giao Mỹ – Cục Lãnh sự đã thông tin chính thức về lịch cấp thị thực trong tháng 05/2013.
Diện bảo lãnh gia đình
- F-1: Bảo lãnh con độc thân của công dân Mỹ
- F-2A: Bảo lãnh vợ/ chồng & con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân Mỹ
- F-2B: Bảo lãnh con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân Mỹ
- F-3: Bảo lãnh con đã kết hôn của công dân Mỹ
- F-4: Bảo lãnh anh/chị/em ruột của công dân Mỹ
| Diện bảo lãnh gia đình | Các khu vực khác | Trung Quốc | Ấn Độ | Mexico | Phillippines |
| F1 | 01/04/2006 | 01/04/2006 | 01/04/2006 | 08/08/1993 | 01/06/1999 |
| F2A | 01/03/2011 | 01/03/2011 | 01/03/2011 | 01/02/2011 | 01/03/2011 |
| F2B | 15/05/2005 | 15/05/2005 | 15/05/2005 | 01/05/1993 | 08/09/2002 |
| F3 | 08/08/2002 | 08/08/2002 | 08/08/2002 | 01/04/1993 | 22/10/1992 |
| F4 | 01/05/2001 | 01/05/2001 | 01/05/2001 | 08/09/1996 | 01/10/1989 |
Diện lao động việc làm
- EB1: Lao động ưu tiên: chiếm 28.6% mức toàn cầu, cộng thêm số lượng visa không sử dụng diện EB4, EB5.
- EB2: Lao động có bằng cấp cao và khả năng vượt trội: chiếm 28.6% mức toàn cầu, cộng thêm số lượng visa không sử dụng diện EB1
- EB3: Lao động tay nghề và các lao động khác: chiếm 28.6% mức toàn cầu,cộng thêm số lượng visa không sử dụng diện EB1, EB2, không vượt quá 10,000 visa cho khối “lao động khác”
- EB4: Di dân đặc biệt: chiếm 7.1% mức toàn cầu
- EB5: Khối tạo việc làm: chiếm 7.1% mức toàn cầu, không dưới 3,000 visa dành cho nhà đầu tư vào các khu vực vùng nông thôn và có tỷ lệ thất nghiệp cao, và 3,000 visa dành cho nhà đầu tư vào các trung tâm khu vực theo luật Sec. 610 of Pub. L. 102-395.
Trên bảng dưới đây, ngày cho từng chương trình chỉ rõ lượng tồn đọng thụ lý; “C” có nghĩa là đang thụ lý hồ sơ hiện tại, điều này có nghĩa là số lượng visa có sẵn cho tất cả các ứng viên đủ chuẩn; và “U” nghĩa là không có sẵn, điều này có nghĩa là không có sẵn lượng visa được cấp. (Lưu ý: lượng visa có sẵn chỉ dành cho những hồ sơ mà ngày ưu tiên sớm hơn ngày hạn mức theo danh sách dưới đây.)
| Diện lao động việc làm | Các khu vực khác | Trung Quốc | Ấn Độ | Mexico | Phillippines |
| EB1 | C | C | C | C | C |
| EB2 | C | 15/05/2008 | 01/09/2004 | C | C |
| EB3 | 01/12/2007 | 01/12/2007 | 22/12/2002 | 01/12/2007 | 15/09/2006 |
| Lao động khác | 01/12/2007 | 01/09/2003 | 22/12/2002 | 01/12/2007 | 15/19/2006 |
| EB4 | C | C | C | C | C |
| Lao động tôn giáo đặc biệt | C | C | C | C | C |
| EB5
Khối tạo việc làm vào khu vực ưu tiên lao động/ Trung tâm vùng và chương trình thí điểm |
C | C | C | C | C |
(Theo USCIS)
Liên hệ đăng ký tư vấn: Tel: (028) 38.290.430 | Email: vietnam@kornova.com
Dự Thảo Cải Tổ Di Trú Sẽ Gây Bất Lợi Cho Người Mỹ Gốc Việt
Nhận tin tức mớiNhững nét phác thảo chính về bộ luật cải tổ di trú ngày càng rõ nét, với một số điều có thể rất bất lợi cho cộng đồng di dân gốc Việt. Cụ thể, hai diện bảo lãnh anh chị em, và bảo lãnh con trên 21 tuổi (hoặc đã có gia đình), có thể sẽ phải chấm dứt.
Trả lời phỏng vấn báo chí, Tổng Thống Obama, hôm thứ Tư bày tỏ niềm tự tin là bộ luật di trú Mỹ sẽ được cải tổ xong vào cuối mùa hè năm nay, mặc dù bộ luật đang được soạn thảo có một số điều đi ngược với quan điểm của ông.
Dự Thảo Điều Chỉnh Quy Định Đối Với Con Phụ Thuộc
Nhận tin tức mới
Theo IRPR, con của một người có thể ở trong tình trạng phụ thuộc và do đó thuộc định nghĩa của “con cái phụ thuộc”, nếu
- Độ tuổi con là dưới 22 tuổi và chưa kết hôn.
- Thứ hai, một đứa trẻ 22 tuổi trở lên cũng có thể được coi là một đứa trẻ phụ thuộc nếu người đó đã phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của cha (mẹ) và đã đi học liên tục như một sinh viên toàn thời gian từ trước tuổi 22 (hoặc nếu đã kết hôn trước tuổi đó, thì đi học liên tục từ khi kết hôn).
- Cuối cùng là một đứa trẻ 22 tuổi trở lên có thể được coi là một đứa trẻ phụ thuộc nếu người đó đã phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của cha (mẹ) từ trước tuổi 22 và không có khả năng tự hỗ trợ tài chính chính do trong tình trạng bị vấn để về thể chất hoặc tinh thần.
Tối đa hóa lợi ích kinh tế của việc nhập cư và hỗ trợ sự phát triển một nền kinh tế Canada mạnh mẽ và thịnh vượng là mục tiêu trung tâm của các chương trình nhập cư. Cần có những thay đổi cho hệ thống nhập cư của Canada để duy trì tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thịnh vượng. Yếu tố quan trọng của những chuyển đổi này là một hệ thống nhập cư hiệu quả và hiệu quả tập trung vào nhu cầu kinh tế và lực lượng lao động của Canada để thu hút người nhập cư sẽ đóng góp vào nền kinh tế Canada.
Trong các Kế hoạch hành động kinh tế năm 2012 mà Chính phủ trích dẫn mục tiêu ưu tiên nhập cư: làm nguồn lực cho thịnh vượng kinh tế, chuyển đổi sang một hệ thống nhập cư kinh tế nhanh và linh hoạt, và chọn những người nhập cư có kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đáp ứng nhu cầu kinh tế của Canada. Cục Quốc tịch và Nhập cư Canada (CIC) gần đây vừa giới thiệu cải cách chương trình nhân viên trình độ cao liên bang (FSWP) và chương trình kinh nghiệm Canada (Canadian Experience Class) (CEC) nhằm mục đích thu hút và giữ chân người nhập cư có trình độ, có kỹ năng và kinh nghiệm để góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Canada.
Các vấn đề và mục tiêu
Con cái của những người nhập cư được chọn sẽ được thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với đương đơn chính. con phụ thuộc đại diện cho 30% tổng số những người nhập cư hàng năm đến Canada. Thống kê chứng minh rằng con phụ thuộc lớn tuổi (những người đến trong độ tuổi từ 19 và 21 tuổi) có kết quả kinh tế thấp hơn so với những người đến Canada ở độ tuổi trẻ hơn (từ 15 đến 18 tuổi).
Một khảo sát khác đã chứng minh rằng những người nhập cư lớn tuổi có khoảng thời gian khó khăn hơn để hoàn toàn hội nhập vào thị trường lao động Canada, điều này rõ ràng hơn trong trường hợp những người nhập cư phụ thuộc (ví dụ, trẻ em phụ thuộc).
Trong những năm qua trong khi CIC đã thắt chặt các tiêu chí lựa chọn người di cư theo chương trình kinh tế, lại ít cân nhắc đến vai trò của con phụ thuộc trẻ, những người có kết quả hòa nhập xã hội và kinh tế tốt hơn.
Hơn nữa, phụ cấp hiện hành trong việc xem xét hồ sơ con phụ thuộc lớn tuổi đang là sinh viên toàn toàn thời gian để đi cùng với đương đơn chính tạo ra những thách thức lớn và không hiệu quả trong quá trình thụ lý hồ sơ. Để xác minh thông tin tham gia học các chương trình toàn thời gian mất nhiều công sức và những thông tin này dễ gian lận. Việc xem xét hồ sơ cho con phụ thuộc lớn tuổi là sinh viên toàn thời gian đi cùng đương đơn chính rất tiêu tốn nhiều thời gian cho các văn phòng thị thực vì sự cần thiết phải kiểm tra các yếu tố như hình thức của các cơ sở giáo dục, học bạ, bảng điểm và cam kết theo học toàn thời gian.
Ngoài ra, tiêu chí mở rộng cho sinh viên toàn thời gian có thể cho phép những người cũng vào độ tuổi 20-30 hoặc thậm chí hơn 30 đến Canada như con phụ thuộc, mặc dù hội nhập yếu, và kém về hiệu quả kinh tế dài hạn .
Nói cách khác, định nghĩa hiện tại về con phụ thuộc cho mục đích nhập cư đã không còn phù hợp với mục tiêu của chính phủ Canada trong lựa chọn những người di cư đóng góp tốt nhất cho sự tăng trưởng kinh tế và tính bền vững của Canada. Hơn nữa, sự nhầm lẫn này tạo ra sự thiếu hiệu quả trong hoạt động.
Mục tiêu chính của các đề nghị sửa đổi là nhằm tăng cường hội nhập kinh tế của con phụ thuộc nhập cư để tăng tiềm năng kinh tế của Canada. Điều này có thể đạt được bằng cách giảm độ tuổi tối đa của con phụ thuộc nhằm tiếp nhận những con phụ thuộc có nhiều khả năng để hội nhập thành công vào thị trường lao động và đóng góp cho nền kinh tế Canada. Để tiếp tục đảm bảo thu nhân con phụ thuộc trẻ, dự thảo sẽ bãi bỏ tiêu chí ngoại trừ giới hạn tuổi của con phụ thuộc là sinh viên toàn thời gian.
Đề xuất này sẽ đáp ứng các ưu tiên của Chính phủ cho một hệ thống di trú tập trung vào nhu cầu của lực lượng kinh tế và lao động của Canada. Giảm độ tuổi của con phụ thuộc sẽ hỗ trợ ưu tiên nhập cư của Canada bằng cách tập trung vào những người nhập cư trẻ, những người hội nhập nhanh chóng vào thị trường lao động, và những người sẽ có số lượng lớn hơn thời gian đóng góp cho nền kinh tế.
Với đề xuất này, con nhỏ tuồi, nhóm lớn nhất trong diện phụ thuộc, sẽ tiếp tục được tiếp nhận là người phụ thuộc, trong khi con lớn tuổi sẽ phải chứng minh giá trị tích hợp của mình thông qua các chương trình nhập cư Canada khác. Dựa trên số liệu thống kê năm 2012, con phụ thuộc độ tuổi dưới 19 chiếm 90% (64.757) trong tổng số trẻ em định cư, trong khi những người tuổi từ 19 trở lên là 10% (7237).
Mục tiêu thứ hai của dự thảo là tăng hiệu quả thụ lý và giảm nguy cơ gian lận bằng cách loại bỏ các ngoại lệ hiện hành dành cho giới hạn độ tuổi của con phụ thuộc là sinh viên toàn thời gian. Gian lận nhập cư trong các tài liệu đi học khá phổ biến ở một số nước, và việc kiểm tra việc theo học và đăng ký mất khá nhiều công sức.
Mô tả chi tiết dự thảo
Sửa đổi quy định được đề xuất sẽ thu hẹp định nghĩa của con phụ thuộc bằng cách giảm giới hạn tuổi đến dưới 19 và loại bỏ các ngoại lệ dành cho sinh viên toàn thời gian.
Tiêu chí hạn chế về tình trạng hôn nhân, tức là con phụ thuộc chưa kết hôn, và ngoại lệ cho người phụ thuộc lớn tuổi không thể độc lập về tài chính do tình trạng thể chất hoặc tinh thần, sẽ được giữ nguyên.
Cuối cùng, sửa đổi được đề xuất liên quan đến các chi phí của con phụ thuộc. Các đề nghị sửa đổi sẽ áp dụng mức phí như nhau là 150 CAD cho tất cả các trẻ em phụ thuộc.
Tiêu chuẩn thi hành
Dự thảo này sẽ có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2014. Đối với các ứng viên nộp bất hồ sơ vào hoặc sau ngày này, hồ sơ sẽ được áp dụng theo định nghĩa mới được đề xuất cho con phụ thuộc để thụ lý. Đối với tất cả các hồ sơ thường trú nhân nộp trước ngày 1 Tháng 1 năm 2014, định nghĩa hiện tại về con phụ thuộc sẽ tiếp tục được áp dụng.
Độ tuổi của người con phụ thuộc được tính chuẩn vào lúc hồ sơ thường trú nhận được tại CIC.
(Cre: CIC news)
